Thực trạng và giải pháp về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Nghệ An

Phóng viên Tạp chí Trí  thức & Phát triển có buổi gặp gỡ và phỏng vấn ông Vi Ngọc Quỳnh Phó giám đốc Sở Lao động Thương binh và Xã hội Nghệ An(Phó ban VSTBPN tỉnh nghệ An) về vấn đề này.

PV: Thưa ông, theo quan điểm của Đảng, Nhà nước và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí  Minh về bình đẳng giới được thể hiện xuyên suốt trong quá trình lịch sử cách mạng Việt Nam. Đặc biệt sau khi có Luật Bình đẳng giới, Nghị quyết 11 của Bộ Chính trị và Chiến lược quốc gia bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 của Thủ tướng Chính phủ thì ở Nghệ An chiến lược này được tiến hành như thế nào?

Ông Vi Ngọc Quỳnh:  Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930, tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1945; Hiến pháp nước ta năm 1946; Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 đều quy định rõ quyền bình đẳng nam nữ là quyền cơ bản của mọi công dân. Việt Nam ký công ước CEDAW năm 1980, là nước thứ 35 phê chuẩn công ước vào năm 1982; Sau hơn 30 năm thực hiện công ước CEDAW và hơn 10 năm thực hiện mục tiêu phát triển thiên niên kỷ cho thấy, Việt Nam là quốc gia thuộc nhóm nước đang phát triển đạt kết quả cao về chỉ số phát triển giới so với nhiều nước có cùng trình độ phát triển trong khu vực Đông Nam Á; Quốc hội nước ta không chỉ sửa đổi, bổ sung đưa vấn đề giới vào nhiều bộ luật, luật, pháp lệnh nhằm bảo đảm quyền bình đẳng và tạo cơ hội cho phụ nữ trên mọi lĩnh vực giáo dục, lao động - việc làm, kinh tế, dân sự, chăm sóc sức khỏe, hôn nhân - gia đình, tham chính... mà còn xây dựng những các văn bản pháp luật mới trực tiếp điều chỉnh về vấn đề này.

Ở Nghệ An, trong những năm qua công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ phụ nữ (VSTBPN) luôn được các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngành quan tâm; Đặc biệt sau khi có Luật Bình đẳng giới, Nghị quyết 11 của Bộ Chính trị và Chiến lược quốc gia bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 của Thủ tướng Chính phủ; Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã ban hành nhiều văn bản lãnh đạo, chỉ đạo công tác này như: Chỉ thị số 07/CT-TU ngày 18/5/2012 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Quyết định số 2510/QĐ-UBND ngày 09/7/2012 của UBND tỉnh về việc ban hành Kế hoạch tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 57/NQ-CP ngày 01/12/2009 của Chính phủ giai đoạn đến năm 2020 thực hiện Nghị quyết 11/NQ. BCT ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trên địa bàn tỉnh Nghệ An; Quyết định số 4670/QĐ-UBND ngày 14/10/2013 của UBND tỉnh Nghệ An về việc lồng ghép một số chỉ tiêu phát triển giới vào kế hoạch phát triển KT-XH của tỉnh, bộ máy làm công tác bình đẳng giới và VSTBPN từ tỉnh đến cơ sở được kiện toàn và đi vào hoạt động ổn định, chất lượng hoạt động ngày càng được nâng lên.

PV: Xin ông cho biết những kết quả về bình đẳng giới và vì sự tiến bộ phụ nữ trên địa bàn tỉnh Nghệ An thời gian qua?

Ông Vi Ngọc Quỳnh:  Cho đến nay công tác bình đẳng giới và VSTBPN Nghệ An đã đạt được một số kết quả bước đầu, cụ thể:

-      Tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy đảng các cấp nhiệm kỳ ngày càng tăng; Trong giai đoạn 2011-2014, Trong đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo quản lý hiện nay có 01 đ/c giữ chức vụ UV BTV Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, có 12 cán bộ nữ được đề bạt, bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý. Hiện có 6/67 đồng chí là UVBCH đảng bộ tỉnh, chiếm 8,9%; có 06 đ/c là Giám đốc (chiếm 17%), 28 đ/c là Phó giám đốc (chiếm 17%), 99 đ/c là trưởng phòng (chiếm 18,3%), 288 phó tưởng phòng (chiếm 24%) ở các sở, ban, ngành cấp tỉnh và tương đương.

-      Lãnh đạo nữ ở cấp huyện, thành, thị hiện có: 03 đ/c Phó bí thư (chiếm 7,7%), có 02 đ/c là Chủ tịch UBND huyện (chiếm 9,52%), 10 đ/c là PCT UBND huyện(chiếm 17,86%), có 26 đ/c là Ủy viên BTV huyện ủy (chiếm 10,92%), 122 đ/c là Ủy viên BCH Đảng bộ (chiếm 15,8%).

-      Lãnh đạo nữ ở cấp xã, phường, thị trấn hiện có: 20 đ/c là Bí thư (chiếm 4,17%), 67 Phó bí thư (chiếm 9,02%), có 14 Chủ tịch (chiếm 2,9%), 47 Phó Chủ tịch (chiếm 6,6%), 172 UV BTV (chiếm 7,45%), 1.377 UV BCH Đảng bộ (chiếm 18,19%).

Trong 4 năm thực hiện Chiến lược quốc gia bình đẳng giới giai đoạn 2011-2015 bình quân mỗi năng toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho 36- 37 ngàn lao động, trong đó nữ chiếm 46-47%. Đến nay trên địa bàn Nghệ Angần 25% doanh nghiệp do nữ làm chủ, hoạt động ở hầu hết mọi lĩnh vực ngành nghề. Tổng số lao động được đào tạo nghề trong 4 năm trên 333.300 người, trong đó nữ chiếm 38%. Tỷ lệ nữ ở vùng nông thôn nghèo, vùng dân tộc thiểu số có nhu cầu được vay vốn ưu đãi từ các chương trình việc làm, giảm nghèo và các nguồn tín dụng chính thức đạt 78,8 %.

-      Đến hết năm 2014, tỷ lệ biết chữ của nữ trong độ tuổi 15-40 vùng sâu, vùng xa, vùng DTTS đạt  99,19%. Bên cạnh tỷ lệ phụ nữ mang thai được khám đủ 3 lần trong 3 kỳ thai nghén đạt 77,8% và tiếp cận dịch vụ chăm sóc và dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con tăng lên thì tỷ số giới tính khi sinh, tỷ lệ tử vong bà mẹ liên quan đến thai sản, tỷ lệ phá thai năm 2013 đã giảm  mạnh.

-      Đài Phát thanh truyền hình tỉnh, Báo Nghệ An đều có chuyên mục, chuyên trang bình đẳng giới phát sóng định kỳ hàng tháng, 100% đài PTTH huyện, xã có chuyên mục nâng cao nhận thức về bình đẳng

-       Tỷ lệ nạn nhân bạo lực gia đình, bị buôn bán được phát hiện, giải cứu và được tư vấn về pháp lý, sức khỏe được hưởng các dịch vụ hỗ trợ và tái hòa nhập cộng đồng đạt trung bình trên 65%. Nam giới đã có sự chia sẻ với nữ và giành thời gian tham gia nhiều hơn vào các công việc của gia đình.

-       Trên 75% văn bản dự thảo có nội dung liên quan đến bình đẳng giới, bất bình đẳng giới, phân biệt đối xử về giới, lồng ghép vấn đề giới được góp ý thẩm định. Trên 98% cán bộ chuyên trách làm công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ phụ nữ cấp tỉnh và cấp huyện được tấp huấn nâng cao năng lực quản lý nhà nước về bình đẳng giới và kỹ năng hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ.

PV: Bên cạnh những nội dung đã đạt được, còn tồn tại những khó khăn, thách thức nào, thưa ông?

 Ông Vi Ngọc Quỳnh:  Trong thực tế, nhận thức về bình đẳng giới có nhiều chuyển biến nhưng còn chậm, chưa sâu sắc và toàn diện. Giữa mong muốn, mục tiêu đề ra với thực tế thực hiện bình đẳng giới còn nhiều khoảng cách, con đường tiến tới bình đẳng giới thực chất vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức. Kết quả bầu cử ĐBQH Khóa XIII, tỷ lệ nữ đại biểu tuy có tăng hơn nhiệm kỳ trước nhưng vẫn còn thấp, Tỷ lệ nữ tham gia lãnh đạo trong các cơ quan cấp tỉnh, huyện, xã nhìn chung còn thấp; nhiều cơ quan chưa có phụ nữ tham gia trong ban lãnh đạo.

Công tác tuyên truyền, phổ biến, vận động, giáo dục về giới, pháp luật về bình đẳng giới chưa được thường xuyên; Một số chỉ tiêu đánh giá quy định trong mục tiêu Chiến lược quốc gia còn mang định tính rất khó xác định nên chưa thể phân tích giới, lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong việc lập kế hoạch và hoạch định một số chính sách cụ thể cũng như đánh giá đầy đủ hiệu quả của việc thực hiện các mục tiêu bình đẳng giới.

Nguồn lực cho hoạt động bình đẳng giới ở các địa phương chủ yếu trông chờ vào ngân sách Trung ương và tỉnh. Hàng năm, tuy một số huyện, thành phố, thị xã có bố trí nguồn kinh phí sự nghiệp thực hiện công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ phụ nữ nhưng chỉ ở mức độ khiêm tốn, nhiều địa phương, đơn vị chưa bố trí nguồn kinh phí cho hoạt động này.

PV:  Để thực hiện thành công mục tiêu Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2010 – 2020 theo ông cần có những giải  pháp nào?

Ông Vi Ngọc Quỳnh:  Để giải quyết những tồn tại, hạn chế và khó khăn, thách thức trên đòi hỏi phải có những giải pháp đồng bộ. Trước hết, phải có sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, sự vào cuộc của các đoàn thể chính trị, đây là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu giúp cho việc thực hiện thành công Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới. Thực tế cho thấy, nơi nào cấp ủy Đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị quan tâm, thì nơi đó triển khai và thực hiện tốt các mục tiêu bình đẳng giới. Vì vậy, cần tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền về công tác bình đẳng giới nhất là người đứng đầu cơ quan đơn vị.

Tiếp tục đẩy mạnh và đa dạng hóa công tác thông tin tuyên truyền, giáo dục về bình đẳng giới và VSTBPN trên các kênh thông tin đại chúng nhằm nâng cao nhận thức về bình đẳng giới cho cán bộ và mọi người dân.

 Tổ chức tập huấn nâng cao nhận thức và năng lực quản lý nhà nước về bình đẳng giới cho đội ngũ làm công tác bình đẳng giới và VSTBPN các cấp.

 Tiếp tục xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả các mô hình bình đẳng giới ở cơ sở và cộng đồng; làm tốt công tác chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các chính sách pháp luật về bình đẳng giới và công tác phối hợp giữa các Sở, ban, ngành và các địa phương trong việc thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới.

Thực hiện Thông báo số 196-TB/TW ngày 16/03/2015 của Ban Chấp hành Trung ương đảng về kết luận của Ban Bí thư về Đề án: “Tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với công tác bình đẳng giới và VSTBPN trong tình hình mới” và Quyết định số 2351/QĐ-TTg ngày 24 tháng 12 năm 2010 của  Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 và Quyết định số 1241/QĐ-TTg ngày 22 tháng 7 năm 2011 của  Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình Quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2015.

 Các Ban, ngành, đoàn thể, địa phương phối hợp thực hiện tốt các nội dung tại Thông báo số 196-TB/TW ngày 16/03/2015 của Ban Chấp hành Trung ương đảng về kết luận của Ban Bí thư về Đề án: “Tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với công tác bình đẳng giới và VSTBPN trong tình hình mới”; cũng như thực hiện có hiệu quả các mục tiêu, chỉ tiêu trong Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới theo nhiệm vụ được phân công tại Quyết định số 2573/QĐ-UBND ngày 05/7/2011 của UBND tỉnh Nghệ An về việc Phê duyệt Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược quốc gia bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2011-2015, từ đó, tăng cường vai trò quản lý nhà nước về bình đẳng giới. Đồng thời  huy động các nguồn lực và đảm bảo ngân sách nhà nước cho công tác bình đẳng giới và VSTBPN.

PV: Vâng, vậy cá nhân ông nghĩ thế nào về sự tham gia, đóng góp của phụ nữ trong vai trò quản lý và lãnh đạo ở nước ta. Đặc biệt là những trí thức trẻ hiện nay?

Ông Vi Ngọc Quỳnh: Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, phụ nữ Việt Nam luôn giữ vai trò quan trọng và có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển của đất nước. Từ cuộc đấu tranh bất khuất, kiên cường của Bà Trưng, Bà Triệu đến hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, lịch sử lại tiếp tục ghi nhận hàng vạn tấm gương phụ nữ không ngại gian khổ, không tiếc máu xương, sẵn sàng cống hiến không những cuộc đời mình mà còn hy sinh cả con em họ cho nền độc lập, tự do của Tổ quốc. Không chỉ chiến đấu anh hùng, phụ nữ đã và đang lao động cần cù, vượt mọi gian khó, vươn lên thoát cảnh đói nghèo, lạc hậu, góp phần xây dựng đất nước ngày càng to đẹp, vững mạnh. Ngày nay, tiếp nối truyền thống anh hùng của phụ nữ Việt Nam, các tầng lớp phụ nữ, đặc biệt là những trí thức trẻ ngày càng thể hiện vai trò quan trọng của mình trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng đất nước, thể hiện ở số phụ nữ tham gia trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội ngày càng tăng, nhất là trong lĩnh vực chính trị. Sự tham gia của phụ nữ trong bộ máy lãnh đạo, quản lý được coi là thước đo cơ bản về vai trò của phụ nữ trong nền chính trị hiện đại. Đất nước đang trong quá trình đổi mới, không chỉ với thiên chức của mình, mà phụ nữ ngày nay đã tự xác định cho mình cần phải hoc tập để nâng cao trình độ về mọi mặt, không ít phụ nữ nỗ lực không ngừng vươn lên, giữ những vị trí chủ chốt và trở thành những nhà lãnh đạo, quản lý giỏi trên các lĩnh vực. Điều đó cho thấy phụ nữ có ảnh hưởng rất lớn đến gia đình và mọi lĩnh vực của đời sống, xã hội.

 

PV: Xin cảm ơn ông và chúc ông sức khỏe!

                                                                                          Thực hiện : Ngọc Lan

                                                                                                    

 

 

 

 

 

 

Các tin khác